VINAGRI News - Xuất khẩu cà phê của Uganda trong tháng 8 giảm 13,6% về khối lượng so với cùng kỳ năm trước, xuống 737.766 bao 60 kg. Tuy nhiên, kim ngạch chỉ giảm 10,3%, còn 181,7 triệu USD, nhờ giá xuất khẩu bình quân tăng. Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) cho rằng mức giảm xuất khẩu có thể phản ánh sự bình thường hóa sau khi Uganda ghi nhận lượng xuất khẩu kỷ lục trong niên vụ 2024/25, thay vì là dấu hiệu của một xu hướng suy giảm rộng hơn.
Tóm lược:
> Xuất khẩu giảm: Uganda xuất khẩu 737.766 bao cà phê trong tháng 8, giảm 13,6% so với 853.543 bao cùng kỳ năm trước.
> Giá hỗ trợ doanh thu: Kim ngạch giảm 10,3% xuống 181,7 triệu USD, thấp hơn mức giảm sản lượng nhờ giá xuất khẩu bình quân tăng lên 4,1 USD/kg.
> Robusta chiếm ưu thế: Robusta chiếm 92,3% tổng khối lượng xuất khẩu, đạt 680.945 bao; kim ngạch giảm 10,4% xuống 161,1 triệu USD.
> Nguồn cung toàn cầu tăng: ICO dự báo sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2025/26 tăng 4,4% lên 183,6 triệu bao và chuyển sang dư cung khoảng 3 triệu bao sau bốn năm thâm hụt.
Giá cao hơn giúp hạn chế mức giảm xuất khẩu cà phê Uganda
Xuất khẩu cà phê của Uganda giảm 13,6% về khối lượng trong tháng 8 so với cùng kỳ năm trước, trong khi kim ngạch giảm ít hơn, ở mức 10,3%, nhờ giá xuất khẩu bình quân cao hơn giúp hạn chế tác động từ sự sụt giảm khối lượng.
Theo Bộ Nông nghiệp, Chăn nuôi và Thủy sản Uganda, nước này đã xuất khẩu 737.766 bao cà phê loại 60 kg, trị giá 181,7 triệu USD (677,6 tỷ shilling Uganda). Một năm trước đó, Uganda xuất khẩu 853.543 bao, trị giá 202,6 triệu USD.
Giá xuất khẩu bình quân tăng lên 4,1 USD/kg, so với 4 USD/kg trong tháng 7 và cao hơn 3,7% so với tháng 8/2025. Mức tăng giá này lý giải tại sao kim ngạch xuất khẩu giảm ít hơn so với khối lượng.
Trong báo cáo tháng 7, Bộ Nông nghiệp Uganda từng dự báo xuất khẩu tháng 8 đạt khoảng 850.000 bao. Tuy nhiên, khối lượng thực tế thấp hơn 13,2% so với dự báo này.
Thời tiết khô hạn ảnh hưởng đến sản lượng
Báo cáo không đưa ra nguyên nhân cụ thể cho sự sụt giảm khối lượng xuất khẩu, mặc dù phần đề cập đến hoạt động đào tạo nông dân có nhắc tới “điều kiện ngày càng khô hạn”.
Bộ trưởng Nông nghiệp Frank Tumwebaze cho biết trong một tuyên bố ngày 20/9 rằng hạn hán kéo dài và nhiệt độ cao bất thường tại một số khu vực thuộc Greater Masaka, Kyotera, Sembabule và Luwero đã ảnh hưởng đến quá trình ra hoa, phát triển quả cà phê và quá trình hình thành hạt.
Ông ước tính thời tiết đã khiến sản lượng thu được tại các khu vực bị ảnh hưởng thấp hơn khoảng 10% so với mức bình quân thông thường.
Tuy nhiên, trong báo cáo thị trường tháng 8, Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) cho rằng sự sụt giảm gần đây trong xuất khẩu cà phê Uganda “có thể được hiểu phù hợp hơn là sự bình thường hóa từ một mức nền đặc biệt cao, thay vì là bằng chứng về một xu hướng suy giảm rộng hơn”.
ICO cho biết Uganda đã xuất khẩu kỷ lục 8,26 triệu bao cà phê trong niên vụ 2024/25, so với mức bình quân 6,22 triệu bao trong bốn năm trước đó. Mức tăng này được hỗ trợ bởi sản lượng cao hơn và việc giải phóng lượng tồn kho trong bối cảnh giá cà phê quốc tế ở mức cao.
Xuất khẩu robusta giảm mạnh hơn arabica
Robusta chiếm 92,3% tổng khối lượng xuất khẩu trong tháng 8. Xuất khẩu robusta giảm 14,2% xuống 680.945 bao, trong khi kim ngạch giảm 10,4% xuống 161,1 triệu USD.
Xuất khẩu arabica giảm 5,2% xuống 56.821 bao, trong khi kim ngạch giảm 9,4% xuống 20,6 triệu USD.
Báo cáo của Bộ Nông nghiệp cho thấy giá robusta xuất khẩu bình quân đạt 3,9 USD/kg, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, giá arabica giảm 4,4%, xuống 6 USD/kg.
Mt Elgon A và Mt Elgon AB đạt mức giá cao nhất, lên tới 7,9 USD/kg.
Xuất khẩu 12 tháng đạt 8,1 triệu bao
Trong 12 tháng tính đến tháng 8, Uganda đã xuất khẩu 8,1 triệu bao cà phê, trị giá 2,1 tỷ USD.
So với 12 tháng trước đó, khối lượng xuất khẩu tăng 1,6%, trong khi kim ngạch giảm 5,2%. Con số này thay đổi so với 12 tháng tính đến tháng 7, khi khối lượng tăng 3,4% và kim ngạch giảm 4,8%.
Bộ Nông nghiệp cho biết mức tăng về khối lượng phản ánh sản lượng cao hơn, trong khi giá chịu áp lực do nguồn cung gia tăng từ Brazil và Việt Nam.
Italy vẫn là thị trường lớn nhất
Italy tiếp tục là điểm đến lớn nhất đối với cà phê Uganda, nhưng thị phần giảm xuống 25,2%, so với 29,3% trong tháng 7.
Các thị trường lớn tiếp theo gồm Sudan chiếm 15,2%, Đức chiếm 9,9% và Ấn Độ đạt 5,7%, tăng từ mức 4,1% trong tháng 7.
Châu Âu tiếp nhận 63% tổng lượng cà phê xuất khẩu của Uganda, trong khi các quốc gia châu Phi chiếm 23%, tương đương 166.817 bao.
Giá cà phê tại nông hộ tăng
Tại thị trường nội địa, giá robusta kiboko bình quân đạt 5.750 shilling Uganda/kg, tăng từ mức 5.500 shilling/kg trong tháng 7.
Giá robusta FAQ (Fair Average Quality - chất lượng trung bình đạt chuẩn) tăng lên 12.000 shilling/kg, từ 11.500 shilling/kg.
Trong khi đó, arabica parchment có giá bình quân 15.500 shilling/kg.
Bộ Nông nghiệp Uganda dự báo xuất khẩu trong tháng 9 đạt khoảng 700.000 bao và cho biết vụ thu hoạch chính tại khu vực Greater Masaka và miền tây nam đã kết thúc.
Nếu đạt mức dự báo này, lượng xuất khẩu tháng 9 sẽ thấp hơn khoảng 17% so với 839.801 bao được xuất khẩu trong tháng 9/2025.
Giá cà phê quốc tế gần như đi ngang trong tháng 8
Chỉ số giá tổng hợp của ICO (ICO Composite Indicator) đạt bình quân 287,29 cent Mỹ/pound trong tháng 8, tương đương khoảng 6,3 USD/kg, gần như không thay đổi so với mức 287,26 cent/pound trong tháng 7.
Trong tháng, giá cà phê ban đầu tăng nhờ những lo ngại về El Niño và nguồn cung arabica thắt chặt. Tuy nhiên, đà tăng sau đó đảo chiều khi lượng mưa thuận lợi tại Brazil làm giảm lo ngại về nguồn cung, trong khi thị trường kỳ vọng sản lượng cà phê toàn cầu sẽ tăng.
ICO dự báo thị trường cà phê chuyển sang dư cung
ICO ước tính sản lượng cà phê thế giới trong niên vụ 2025/26 đạt 183,6 triệu bao, tăng 4,4%, đồng thời dự báo thị trường sẽ chuyển sang dư cung khoảng 3 triệu bao sau bốn năm liên tiếp thâm hụt.
ICO dẫn các dự báo của Marex, theo đó thị trường cà phê toàn cầu có thể dư cung 10,5 triệu bao trong niên vụ 2026/27.
Trong khi đó, Rabobank dự báo mức dư cung khoảng 8,9 triệu bao.
Bộ Nông nghiệp Uganda cho biết Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo sản lượng cà phê thế giới trong niên vụ 2026/27 đạt mức kỷ lục 189,7 triệu bao.
Tỷ giá: 1 USD = 3.730,3 shilling Uganda, theo tỷ giá bình quân của Ngân hàng Uganda trong tháng 8.
NPK/ Vinagri News (Uganda Business News)

No comments:
Post a Comment