Pakistan cần bảo hiểm tín dụng xuất khẩu để bảo vệ ngành gạo trước khủng hoảng vận tải biển - VINAGRI News

Breaking

Home Top Ad

Exclusively Agriculture News

Friday, September 25, 2026

Pakistan cần bảo hiểm tín dụng xuất khẩu để bảo vệ ngành gạo trước khủng hoảng vận tải biển

VINAGRI News - Xuất khẩu gạo Pakistan đang đối mặt với rủi ro lớn do gián đoạn vận tải qua eo biển Hormuz, vịnh Aden và các tuyến hàng hải thay thế quanh Mũi Hảo Vọng. Trong bối cảnh kim ngạch xuất khẩu gạo năm tài chính 2026 giảm 31,7%, việc trợ cấp cước vận tải có thể tiêu tốn hàng trăm triệu USD nhưng không giải quyết được những rủi ro thanh toán và tín dụng. Bài viết đề xuất Ngân hàng Xuất nhập khẩu Pakistan triển khai chương trình bảo hiểm tín dụng thương mại xuất khẩu gạo trong 6 tháng, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp duy trì thanh khoản, hạn chế tồn kho và bảo vệ thu nhập của nông dân.



Tóm lược:

> Xuất khẩu gạo Pakistan năm tài chính 2026 đạt 4,29 triệu tấn, trị giá 2,29 tỷ USD, giảm lần lượt 26,2% về lượng và 31,7% về giá trị so với năm trước.

> Khoảng 836 triệu USD, tương đương 36,5% kim ngạch xuất khẩu, có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi gián đoạn vận tải tại Hormuz, vịnh Aden và các tuyến đường biển thay thế.

> Xuất khẩu suy giảm có thể khiến thêm 2,28 triệu tấn lúa quy đổi phải được tiêu thụ trong nước, gây áp lực lên giá lúa tại ruộng và làm gia tăng rủi ro tín dụng nông thôn.

> Bài viết đề xuất chương trình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trị giá 200 triệu USD, với tỷ lệ bảo hiểm 80%, nhằm huy động vốn ngân hàng và duy trì các giao dịch xuất khẩu khả thi thay vì trợ cấp cước vận tải trên diện rộng.


Xuất khẩu gạo Pakistan đối mặt rủi ro 836 triệu USD


Pakistan xuất khẩu 4,29 triệu tấn gạo, thu về 2,29 tỷ USD trong năm tài chính 2026. Nếu áp dụng cơ cấu thị trường xuất khẩu của năm tài chính trước vào kim ngạch hiện tại, khoảng 36,5% giá trị xuất khẩu, tương đương 836 triệu USD, đang đối mặt với rủi ro do gián đoạn kéo dài tại eo biển Hormuz, vịnh Aden hoặc việc phải chuyển hướng vận tải qua Mũi Hảo Vọng.


Trong số này, khoảng 390 triệu USD hàng hóa được xuất khẩu đến các thị trường phụ thuộc trực tiếp vào tuyến hàng hải qua eo biển Hormuz hoặc eo biển Bab el-Mandeb. Một khoản khác trị giá khoảng 356 triệu USD liên quan đến thị trường Anh và châu Âu lục địa.


Oman chiếm khoảng 92 triệu USD kim ngạch và có thể đóng vai trò là tuyến thay thế. Tuy nhiên, các cảng của Oman không thể tiếp nhận lượng hàng chuyển hướng không giới hạn mà không phát sinh tình trạng ùn tắc, chi phí bốc dỡ bổ sung và chi phí vận chuyển nội địa tăng cao.


Những gián đoạn vận tải biển mới nhất xảy ra trong bối cảnh ngành gạo Pakistan đã suy giảm trước đó. Xuất khẩu gạo nước này giảm từ 5,82 triệu tấn, trị giá 3,35 tỷ USD trong năm tài chính 2025, xuống còn 4,29 triệu tấn, trị giá 2,29 tỷ USD trong năm tài chính 2026.


Như vậy, lượng xuất khẩu giảm 26,2%, trong khi kim ngạch giảm 31,7%. Giá trị thu về bình quân cũng giảm từ 576 USD/tấn xuống còn 534 USD/tấn.


Khoản doanh thu xuất khẩu bị mất 1,06 tỷ USD trong năm tài chính 2026 xuất phát đồng thời từ lượng hàng xuất khẩu giảm và giá bán suy yếu.


Gạo non-basmati chịu sức ép lớn hơn


Sự suy giảm xuất khẩu tập trung gần như hoàn toàn ở phân khúc gạo non-basmati.


Trong năm tài chính 2026, xuất khẩu gạo non-basmati của Pakistan giảm 30,2% xuống còn 3,50 triệu tấn, trong khi kim ngạch giảm mạnh 42,6%, xuống còn 1,45 tỷ USD.


Giá trị thu về bình quân của gạo non-basmati giảm 17,8%, từ 504 USD/tấn xuống còn 414 USD/tấn.


Ngược lại, xuất khẩu gạo basmati giảm nhẹ 1,7% về lượng, xuống còn 795.000 tấn. Tuy nhiên, kim ngạch của phân khúc này tăng 1,5%, đạt 843 triệu USD, trong khi giá trị thu về bình quân tăng từ 1.028 USD/tấn lên 1.061 USD/tấn.


Sự khác biệt giữa hai phân khúc quyết định khả năng chống chịu của từng nhóm doanh nghiệp trước nguy cơ chi phí vận tải tăng thêm.


Nếu cước vận tải, bảo hiểm và chi phí xử lý hàng hóa tăng thêm 2.500 USD đối với một container chở 25 tấn, chi phí phát sinh sẽ tương đương 100 USD/tấn. Mức tăng này bằng khoảng 24% giá trị xuất khẩu bình quân hiện tại của gạo non-basmati, nhưng thấp hơn 10% đối với gạo basmati.


Nếu chi phí tăng thêm 150 USD/tấn, khoản phát sinh sẽ chiếm hơn 36% giá trị xuất khẩu bình quân của gạo non-basmati.


Trong trường hợp đó, tuyến vận tải vẫn có thể hoạt động về mặt kỹ thuật, nhưng giao dịch xuất khẩu có thể không còn hiệu quả về mặt thương mại sau khi tính thêm phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh, thời gian vận chuyển kéo dài và chi phí vận tải nội địa.


Gián đoạn vận tải có thể khiến doanh thu xuất khẩu giảm mạnh


Rủi ro trước mắt đối với ngành gạo Pakistan là đáng kể.


Trong kịch bản gián đoạn kéo dài 6 tháng, khoảng 195 triệu USD kim ngạch từ các thị trường phụ thuộc trực tiếp vào các điểm nghẽn hàng hải và 178 triệu USD kim ngạch xuất khẩu sang châu Âu sẽ nằm trong giai đoạn chịu ảnh hưởng.


Nếu một nửa lượng hàng xuất khẩu qua các tuyến trực tiếp bị hủy hoặc hoãn giao hàng, đồng thời xuất khẩu sang châu Âu giảm 10%, khoản thiếu hụt doanh thu ban đầu có thể đạt khoảng 115 triệu USD.


Nếu tính thêm việc giảm giá bán đối với lượng gạo phải chuyển hướng sang các thị trường châu Phi và châu Á, tổng thiệt hại trong 6 tháng có thể tăng lên 115 - 190 triệu USD.


Trong kịch bản nghiêm trọng kéo dài cả năm, khoảng 334 triệu USD kim ngạch xuất khẩu có thể gặp rủi ro.


Tuy nhiên, tác động nguy hiểm hơn có thể xuất hiện bên ngoài các cảng biển, khi lượng gạo không thể xuất khẩu phải chuyển sang tiêu thụ trong nước.


Xuất khẩu giảm gây áp lực lên giá lúa và thu nhập nông dân


Pakistan đã xuất khẩu ít hơn 1,53 triệu tấn gạo trong năm tài chính 2026 so với năm tài chính 2025. Điều này khiến lượng gạo lớn hơn đáng kể phải được các nhà máy xay xát, kho hàng và chợ nông sản trong nước tiếp nhận.


Với tỷ lệ thu hồi gạo sau xay xát là 67%, lượng gạo xuất khẩu thiếu hụt tương đương khoảng 2,28 triệu tấn lúa nguyên liệu.


Áp lực bổ sung này đặc biệt đáng lo ngại trong giai đoạn thu hoạch từ tháng 10 đến tháng 12, khi lượng lúa đưa ra thị trường đạt đỉnh và nông dân có ít khả năng giữ hàng chờ giá tăng.


Các phép tính cho thấy, nếu giá lúa giảm 500 rupee/40 kg, tương đương chỉ 12,50 rupee/kg, tổng giá trị lúa của lượng hàng quy đổi 2,28 triệu tấn sẽ giảm khoảng 28,5 tỷ rupee.


Nếu giá giảm 1.000 rupee/40 kg, khoản thiệt hại sẽ lên gần 57 tỷ rupee.


Các phép tính này chỉ áp dụng mức giảm giá lên lượng lúa tương đương phần xuất khẩu thiếu hụt. Nếu giá tại các chợ nông sản giảm và trở thành mức tham chiếu cho toàn bộ vụ mùa, mức độ ảnh hưởng đến thu nhập nông thôn sẽ lớn hơn đáng kể.


Đối với nông dân, tiền bán lúa không phải khoản tiết kiệm nhàn rỗi. Nguồn thu này được sử dụng để trả nợ cho các đại lý thu mua và nhà cung cấp vật tư, trang trải sinh hoạt gia đình và tài trợ cho việc gieo trồng lúa mì, vốn diễn ra trùng với thời điểm thu hoạch và tiêu thụ lúa.


Do đó, giá lúa tại ruộng giảm sẽ làm suy yếu khả năng thu hồi nợ trong hệ thống tín dụng phi chính thức, giảm nhu cầu mua phân bón và hạt giống được chứng nhận, đồng thời gây sức ép lên các đơn vị vận tải, lao động nông nghiệp và nhà bán lẻ tại nông thôn.


Một vấn đề xuất khẩu ban đầu có thể chuyển thành sự suy giảm thanh khoản trên diện rộng của nền kinh tế nông thôn.


Sự thiếu hụt xuất khẩu trong năm tài chính 2026 phản ánh khả năng tiêu thụ yếu đối với vụ lúa thu hoạch trong giai đoạn tháng 10 - 12/2025. Nếu gián đoạn tiếp tục kéo dài, lượng tồn kho còn lại có nguy cơ chuyển sang vụ thu hoạch tiếp theo.


Điều này khiến các nhà máy xay xát có thêm lý do thận trọng khi thu mua lúa mới, trong khi nông dân có thể buộc phải bán sớm vì lo ngại giá tiếp tục giảm.


Trợ cấp cước vận tải có thể tiêu tốn 215 - 429 triệu USD


Trong bối cảnh đó, việc can thiệp chính sách trở nên cấp thiết. Mục tiêu không phải là bảo vệ biên lợi nhuận của doanh nghiệp xuất khẩu bằng mọi giá, mà là ngăn chặn gián đoạn hàng hải biến thành tình trạng tồn kho dư thừa, cú sốc giá lúa tại ruộng và cuối cùng là vấn đề tín dụng nông thôn.


Một giải pháp chính sách dễ được lựa chọn là trợ cấp cước vận tải.


Tuy nhiên, nếu trợ cấp 50 USD/tấn cho toàn bộ lượng gạo xuất khẩu trong năm tài chính 2026, ngân sách sẽ phải chi khoảng 215 triệu USD. Với mức trợ cấp 100 USD/tấn, tổng chi phí sẽ lên tới 429 triệu USD.


Khoản tiền này sẽ được chi cho mọi lô hàng đủ điều kiện, kể cả những giao dịch vẫn diễn ra bình thường nếu không có hỗ trợ.


Hơn nữa, lợi ích có thể tập trung không cân đối vào những doanh nghiệp đủ lớn để thuê tàu và đáp ứng các thủ tục hoàn trả trợ cấp. Theo lập luận của bài viết, đây là cách mà một chương trình cứu trợ tạm thời có thể dần trở thành khoản hỗ trợ thường xuyên.


Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu: giải pháp huy động vốn với chi phí thấp hơn


Pakistan đã có một tổ chức được thành lập để xử lý những hạn chế tài chính trong hoạt động thương mại quốc tế.


Ngân hàng Xuất nhập khẩu Pakistan (EXIM Bank of Pakistan) được thành lập theo Luật Ngân hàng Xuất nhập khẩu Pakistan năm 2022, với vai trò là cơ quan tín dụng xuất khẩu được nhà nước hỗ trợ.


Bảo hiểm tín dụng thương mại không thể làm giảm cước vận tải hoặc bảo vệ tàu khỏi thiệt hại vật chất. Tuy nhiên, công cụ này có thể bảo hiểm các rủi ro được xác định rõ, bao gồm người mua không thanh toán, chậm thanh toán và một số rủi ro chính trị hoặc chuyển tiền đủ điều kiện.


Nhờ đó, các ngân hàng có thể tiếp tục cấp vốn dựa trên những khoản phải thu xuất khẩu trong bối cảnh thời gian và khả năng thu hồi tiền hàng trở nên khó dự đoán.


Bài viết đề xuất EXIM triển khai chương trình bảo hiểm tín dụng xuất khẩu gạo liên tục trong 6 tháng, hướng đến các lô hàng đã được xác minh xuất khẩu sang những thị trường bị ảnh hưởng tại vùng Vịnh, Biển Đỏ và châu Âu.


Chương trình thí điểm có quy mô danh mục 200 triệu USD, với tỷ lệ bảo hiểm 80%, sẽ tạo ra khoản dư nợ được bảo hiểm trị giá 160 triệu USD, trong khi doanh nghiệp xuất khẩu tự chịu 20% rủi ro còn lại.


Với mức phí bảo hiểm giả định 2 - 3%, nếu ngân sách hỗ trợ toàn bộ phí bảo hiểm, chi phí sẽ vào khoảng 3,2 - 4,8 triệu USD.


Ngay cả khi tỷ lệ bồi thường đạt 5%, tổng số tiền bồi thường sẽ là 8 triệu USD. Với tỷ lệ bồi thường 10%, con số này đạt 16 triệu USD, trước khi tính các khoản thu hồi.


Các mức chi phí trên thấp hơn đáng kể so với 215 triệu USD cần thiết cho phương án trợ cấp cước vận tải ở mức thấp hơn.


Huy động 128 triệu USD vốn ngân hàng để duy trì hoạt động xuất khẩu


Thước đo thực sự của chương trình bảo hiểm là khả năng giải phóng thanh khoản trước khi thiệt hại xảy ra.


Nếu các ngân hàng thương mại cấp vốn tương đương 80% giá trị danh mục được bảo hiểm 160 triệu USD, doanh nghiệp xuất khẩu có thể tiếp cận tối đa 128 triệu USD.


Nguồn vốn này có thể được sử dụng để thu mua lúa, duy trì hàng tồn kho và đáp ứng các chu kỳ thanh toán kéo dài.


Việc áp dụng mức phí bằng 0 hoặc ở mức tượng trưng cho nhóm doanh nghiệp đầu tiên có thể được xem xét, với điều kiện chương trình có thời hạn rõ ràng, quy mô giới hạn và quy trình thẩm định rủi ro chặt chẽ.


Theo quan điểm của bài viết, một cơ quan tín dụng xuất khẩu chỉ chờ đến khi rủi ro thương mại biến mất mới cung cấp bảo hiểm sẽ không đáp ứng được mục đích hoạt động trong thời kỳ khủng hoảng.


Các doanh nghiệp xuất khẩu cần tự chịu ít nhất 10 - 20% giá trị mỗi khoản rủi ro, đồng thời áp dụng giới hạn đối với từng doanh nghiệp, người mua và thị trường đích nhằm tránh tập trung rủi ro.


Hàng tồn kho đầu cơ, tổn thất do biến động giá hàng hóa, giao dịch giữa các bên liên quan và việc doanh nghiệp xuất khẩu không thực hiện nghĩa vụ của mình cần nằm ngoài phạm vi bảo hiểm.


Kết hợp bảo hiểm tín dụng với các tuyến vận tải thay thế


Bên cạnh giải pháp tài chính, Pakistan vẫn cần triển khai các biện pháp vận hành để duy trì dòng chảy thương mại.


Các biện pháp bao gồm tăng năng lực vận chuyển qua Oman và những cảng phía đông của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), phát triển các tuyến vận tải nội địa thay thế và bổ sung điều khoản cho phép thay đổi địa điểm dỡ hàng trong hợp đồng xuất khẩu.


Bảo hiểm không thể trực tiếp vận chuyển hàng hóa, nhưng có thể giúp ngăn chặn các đơn hàng còn khả thi bị hủy bỏ chỉ vì doanh nghiệp xuất khẩu và ngân hàng không đủ khả năng gánh thêm 60 - 90 ngày bất định về thanh toán.


Pakistan có thể chi 215 - 429 triệu USD để hoàn trả cước vận tải và hy vọng các điểm nghẽn hàng hải được khai thông trước khi khoản trợ cấp trở nên quá lớn để có thể chấm dứt.


Một phương án khác là sử dụng khoản ngân sách ưu đãi nhỏ hơn để kích hoạt bảo hiểm tín dụng thương mại, huy động nguồn vốn ngân hàng và ngăn chặn khủng hoảng vận tải biển chuyển thành khủng hoảng thu nhập nông thôn.


NPK/ Vinagri News (Brecorder)

No comments:

Post a Comment